Ngân hàng thương mại? Cách thức hoạt động của ngân hàng thương mại

Đối với những người sử dụng các dịch vụ ngân hàng chắc hẳn đã nghe qua cụm từ “ngân hàng thương mại“. Nhưng liệu rằng mọi người đã hiểu rõ bản chất, hoạt động của ngân hàng thương mại chưa? Bài viết này Fingo sẽ mang đến đầy đủ thông tin chi tiết về ngân hàng thương mại, hãy cùng theo dõi nhé!

Ngân hàng thương mại là gì?

Ngân hàng thương mại là một tổ chức chuyên về kinh doanh đồng vốn và các dịch vụ tài chính liên quan, được xem xét là một loại doanh nghiệp độc đáo. Hoạt động kinh doanh chủ yếu xoay quanh việc sử dụng các loại tiền tệ, do đó, ngân hàng thương mại chính là nơi mà không chỉ cung cấp vốn mà còn là nơi mà khách hàng tiêu dùng vốn của họ.

Thông qua các giao dịch này, mối quan hệ tương tác giữa khách hàng và tổ chức tài chính này sẽ tạo ra các hoạt động tác động đến cả hai phía, hình thành sự tương tác chặt chẽ giữa họ.

Ngân hàng thương mại là gì?
Ngân hàng thương mại là gì?

Phân loại ngân hàng thương mại

Tùy vào lựa chọn tiêu chuẩn phân loại mà ngân hàng thương mại có thể được chia thành những nhóm sau:

Dựa vào hình thức sở hữu

Ngân hàng thương mại quốc doanh: được thành lập từ 100% nguồn vốn nhà nước, giữ vai trò quan trọng trong chuỗi mắc xích các ngân hàng. Các ngân hàng này hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước và ngoài các hoạt động thông thường còn phải thực hiện các nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho.

Ngân hàng thương mại quốc doanh
Ngân hàng thương mại quốc doanh

Ngân hàng thương mại cổ phần: được thành lập từ việc góp vốn kinh doanh của các cổ đông, doanh nghiệp. Trong đó mỗi cá nhân hay công ty chỉ được sở hữu một số lượng cổ phần giới hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng liên doanh: được thành lập theo hình thức góp vốn liên doanh giữa ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài, trong đó tỷ lệ góp của đối tác nước ngoài không quá 50%, trụ sở làm việc chính ở Việt Nam và dưới sự quản lý của pháp luật Việt Nam.

Ngân hàng liên doanh
Ngân hàng liên doanh

Ngân hàng có vốn 100% từ nguồn vốn nước ngoài: được thành lập từ 100% vốn nước ngoài, dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam, có đầy đủ các quyền như một ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho thị trường Việt Nam, thời gian hoạt động không quá 99 năm.

Ngân hàng có vốn 100% từ nguồn vốn nước ngoài
Ngân hàng có vốn 100% từ nguồn vốn nước ngoài

Ngân hàng chi nhánh nước ngoài: được thành lập 100% vốn nước ngoài theo luật pháp nước ngoài và được phép hoạt động tại Việt Nam.

Ngân hàng chi nhánh nước ngoài
Ngân hàng chi nhánh nước ngoài

Dựa vào chiến lược kinh doanh

Ngân hàng thương mại bán buôn:

  • Đối tượng khách hàng: những doanh nghiệp, công ty tài chính lớn, các tập đoàn kinh tế; rất ít khi có giao dịch với khách hàng cá nhân.
  • Danh mục sản phẩm dịch vụ: thường không đa dạng nhưng giá trị từng giao dịch rất lớn.

Ngân hàng thương mại bán lẻ:

  • Đối tượng khách hàng cá nhân, các công ty vừa và nhỏ.
  • Đa dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụ để đáp ứng được những nhu cầu của khách hàng. Giá trị mỗi giao dịch thường không lớn nhưng có số lượng giao dịch cao.

Ngân hàng thương mại vừa bán buôn vừa bán lẻ: thực hiện cả hai hoạt động vừa bán buôn vừa bán lẻ. Đối tượng khách hàng là tất cả các dạng khách hàng.

Ngoài ra còn có dạng ngân hàng khác như: Ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác.

Dựa vào tính chất hoạt động

  • Ngân hàng chuyên doanh: là loại ngân hàng chỉ chuyên về một lĩnh vực nhất định như: nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư…
  • Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là loại ngân hàng hoạt động ở tất cả các lĩnh vực kinh tế và thực hiện gần như tất cả các nghiệp vụ phát sinh mà một ngân hàng được phép thực hiện theo quy định của pháp luật.

Đặc điểm của ngân hàng thương mại

  • Là một định chế tài chính trung gian, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là loại định chế tài chính trung gian quan trọng và bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế -xã hội phát triển.
  • Hoạt động đa dịch vụ, đa nghiệp vụ trong đó nghiệp vụ chính là ngân hàng.
  • Huy động nguồn vốn bằng cách nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu và nhiều giấy tờ có giá khác. Sử dụng nguồn vốn để cho vay tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh
  • Thực hiện nhiều dịch vụ như chuyển tiền, thanh toán, uỷ thác và bảo lãnh…
  • Có thể tạo ra lượng bút tệ, nhờ hoạt động cho vay và thanh toán
  • Là một bộ phận quan trọng trong khối cung tiền tệ cho nền kinh tế và tác động đến chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương.

Yếu tố tác động đến ngân hàng thương mại

Hoạt động của ngân hàng thương mại chịu tác động của các yếu tố sau:

  • Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục sản phẩm dịch vụ: Các ngân hàng thương mại đang mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính đang cung cấp cho khách hàng. Quá trình mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ đã tăng tốc dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác, sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn, và sự thay đổi công nghệ.
  • Gia tăng cạnh tranh: Sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ. Các ngân hàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, hiệp hội tín dụng, ngân hàng đầu tư, công ty tài chính và tổ chức bảo hiểm.
  • Gia tăng chi phí vốn: Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực tế của tài khoản tiền gửi. Với sự nới lỏng này, ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi. Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn để tài trợ cho các tài sản của mình. Điều đó buộc các ngân hàng thương mại phải tìm cách cắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thời bằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại. Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốn mới như chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay được tập hợp lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; đảm bảo bằng các món vay được bán trên thị trường mở nhằm huy động vốn mới một cách rẻ hơn và đáng tin cậy hơn. Hoạt động này có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ cho ngân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống.
  • Gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất: Chính phủ đã thiết lập quy định để ngân hàng có thể tạo cơ hội thu nhập cao hơn từ tiền gửi. Công chúng đã sử dụng cơ hội này bằng cách chuyển tiền từ các tài khoản tiết kiệm và tài khoản giao dịch không sinh lợi sang các tài khoản có thu nhập cao hơn, phản ánh sự thay đổi của thị trường. Các khoản tiền gửi “trung thành” có thể nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc trả thu nhập cho người gửi tiền và phản ánh sự thay đổi trong sở thích xã hội về cách phân phối tiết kiệm.
  • Cuộc cách mạng trong công nghệ ngân hàng: Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, ngân hàng thương mại đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựa trên lao động thủ công. Đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ và cấp tín dụng. Ví dụ như: máy rút tiền tự động ATM; máy thanh toán tiền POS thay thế cho các thanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàn giao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới.

Chức năng của ngân hàng thương mại

4 chức năng chính của ngân hàng thương mại bao gồm:

Tín dụng

Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Lợi ích cụ thể cho từng chủ thể như sau:

  • Đối với khách hàng: là người gửi tiền, họ sẽ thu lợi từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức tiền lãi, an toàn tiền gửi, tiện ích. Với người đi vay, giúp cho các chủ thể trong nền kinh tế thoả mãn cầu vốn tạm thời thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời tiết kiệm chi phí, thời gian, tiện lợi, an toàn và hợp pháp.
  • Đối với ngân hàng: là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển ngân hàng thông qua lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi Đồng thời nó là cơ sở để ngân hàng thương mại tạo bút tệ góp phần tăng quy mô tín dụng cho nền kinh tế.
  • Đối với nền kinh tế: điều hoà vốn tiền tệ từ nơi tạm thời dư thừa đến nơi tạm thời thiếu hụt góp phần phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thanh toán

Ngân hàng thương mại thay mặt khách hàng trích tiền trên tài khoản trả cho người thụ hưởng hoặc nhận tiền vào tài khoản. Lợi ích cụ thể:

  • Đối với khách hàng hàng: Thanh toán một cách nhanh chóng, an toàn, hiệu quả.
  • Đối với ngân hàng: Tạo điều kiện thu hút nguồn vốn tiền gửi thông qua cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng cao.
  • Đối với nền kinh tế: Chức năng này lưu thông hàng hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả quá trình tái sản xuất xã hội, đồng thời nó cũng giúp làm giảm khối lượng tiền mặt dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt.

Tạo tiền

Là chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương mại. Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, ngân hàng vô hình trung đang thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụngthanh toán.

Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại sử dụng nguồn vốn huy động được để đi vay. Sau đó, số tiền đó lại được đưa vào nền kinh tế thông qua hoạt động như mua hàng hóa, trong khi những người có số dư tài khoản tiếp lại tiêu dùng thông qua các hình thức thanh toán qua thẻ,…

Quỹ tiền

Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi, giữ tiền, bảo quản tiền, thực hiện yêu cầu rút tiền, chi tiền cho khách hàng. Chức năng thủ quỹ góp phần tạo ra lợi ích:

  • Đối với khách hàng: giúp khách hàng ngoài việc đảm bảo an toàn tài sản còn giúp sinh lời vốn tạm thời.
  • Đối với ngân hàng: có được nguồn vốn để thực hiện chức năng tín dụng. Là cơ sở để thực hiện được chức năng trung gian thanh toán.
  • Đối với nền kinh tế: khuyến khích tích lũy trong xã hội; đồng thời tập trung nguồn vốn tạm thời để phục vụ phát triển kinh tế.

Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại

Dưới đây là các nghiệp vụ cơ bản của một ngân hàng thương mại:

Nghiệp vụ tài sản nợ, huy động vốn

Đây là nghiệp vụ phổ biến trong hoạt động ngân hàng thương mại, phản ánh qua nguồn vốn. Được thể hiện chi tiết qua nguồn vốn của ngân hàng. Nguồn vốn sẽ bao gồm vốn tự có và nguồn vốn được coi là tự có. Cụ thể như sau:

  • Vốn tự có: Bao gồm vốn điều lệ của ngân hàng hay nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, có khi ngân hàng được hình thành, thành lập. Nguồn vốn điều lệ sẽ được ngân hàng sử dụng để mua thiết bị, tài sản cùng một số hoạt động khác. Ngoài ra, vốn tự có sẽ có thêm nguồn quỹ dự trữ, là nguồn vốn do hoạt động phát sinh lợi nhuận ròng hàng tháng của ngân hàng.
  • Vốn được coi là tự có: Là khoản vốn nhàn rỗi tạm thời của ngân hàng, được sử dụng để chi tiêu cho các khoản mục tạm thời.

Nghiệp vụ nhận tiền gửi

Nhận tiền gửi cũng là một nghiệp vụ ngân hàng cơ bản. Hiện nay có khá nhiều ngân hàng thương mại đang quan tâm đến nghiệp vụ này của nhân viên. Ngân hàng thường sẽ nhận tiền gửi từ doanh nghiệp, cá nhân hoặc các tổ chức khác, sau đó sẽ trả lãi, gốc khi những khoản tiền gửi này được yêu cầu rút tiền.

Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng

Hầu hết, các ngân hàng thương mại hiện nay đều có nguồn vốn huy động, nguồn vốn huy động này sẽ được sử dụng vào mục đích cho vay để tăng lợi nhuận. Hay là hình thức tín dụng của ngân hàng. Do đó, nhân viên sẽ cần có nghiệp vụ ngân hàng về tín dụng để thực hiện, làm việc liên quan đến mảng này.

Các nghiệp vụ tín dụng sẽ liên quan đến các tính chất, hình thức của khoản vay, được chia thành thành những nhóm sau tùy theo căn cứ:

  • Căn cứ vào mục đích:
    • Cho vay thương mại, công nghiệp: Các khoản vay ngắn hạn, bổ sung vốn cho doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ hoặc công nghiệp.
    • Cho vay thuê mua.
    • Cho vay nông nghiệp.
    • Cho vay liên quan đến bất động sản.
  • Căn cứ vào thời điểm
    • Cho vay ngắn hạn dưới 12 tháng: Thường được cho vay với mục đích hỗ trợ thiếu hụt vốn lưu động cho doanh nghiệp.
    • Cho vay trung hạn từ 1 đến 3 năm: Thường được sử dụng cho vay với mục đích đầu tư, mua sắm các loại tài sản cố định.
    • Cho vay dài hạn tối thiểu 3 năm: Cho vay với mục đích xây nhà, đầu tư lớn.
  • Căn cứ vào hình thái giá trị
    • Cho vay bằng tiền: Là hình thức cho vay bằng tiền mặt.
    • Cho vay bằng tài sản: Cho vay bằng hình thức là một tài sản cố định.
  • Căn cứ vào mức độ uy tín của người vay
    • Cho vay thế chấp: Là hình thức khách hàng cầm cố tài sản, nhà cửa,… có giá trị để nhận khoản vay.
    • Cho vay tín chấp: Vay dựa vào uy tín cá nhân, thủ tục khá đơn giản.
  • Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
    • Vay trả góp: Khách hàng sẽ lựa chọn trả góp khoản vay theo thời gian nhất định.
    • Vay trả một lần: Khách hàng hoàn trả khoản vay và lãi suất với cuối thời gian vay.

Nghiệp vụ đầu tư

Ngoài các nghiệp vụ trên, ngân hàng thương mại cũng sẽ thực hiện đầu tư như mua bán chứng khoán. Nghiệp vụ ngân hàng liên quan đến đầu tư sẽ giúp bạn có thể hiểu và giúp ngân hàng có lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư.

Nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại

Nghiệp vụ ngân hàng kinh doanh đối ngoại là nghiệp vụ liên quan đến các hoạt động mua bán ngoại tệ, huy động các nguồn vốn ngoại tệ để giúp ngân hàng có thể đầu tư và cho vay để thu về lợi nhuận.

Một số nghiệp vụ khác

Ngoài những nghiệp vụ trên, sẽ có một số nghiệp vụ ngân hàng khác liên các đến các hoạt động như:

  • Dịch vụ chuyển tiền: Ngân hàng thực hiện các lệnh chuyển tiền cho khách hàng theo yêu cầu.
  • Dịch vụ thu, chi của ngân hàng: Thực hiện ủy nhiệm chi hoặc ủy nhiệm thu.
  • Dịch vụ ủy thác: Thực hiện các ủy thác như chuyển giao tài sản, bảo quản vàng bạc, bảo quản giấy tờ.
  • Dịch vụ mua bán hộ: Thực hiện mua bán trái phiếu, chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng.

Lời kết

Trên đây là toàn bộ thông tin về ngân hàng thương mại mà Fingo đã mang đến cho bạn đọc, giúp bạn đọc hiểu rõ định nghĩa cũng như cách thức hoạt động của hình thức ngân hàng này. Hãy theo dõi Fingo để cập nhật thêm nhiều kiến thức tài chính – ngân hàng nhé!

Thông tin này có hữu ích với bạn không?
Avatar của Trần Thị Diễm Quỳnh
Trần Thị Diễm Quỳnh

Trần Thị Diễm Quỳnh (Athene Tran), sinh viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh. Hiện tại tôi đang là nhân viên của Fingo Việt Nam.

Để lại bình luận

Back to top